Top 10 nhà khoa học nổi tiếng nhất Việt Nam từ trước đến nay

Hỏi Đáp

Đứng đầu Mười Nhà khoa học nổi tiếng nhất Việt Nam

Bạn có biết cho đến nay 10 nhà khoa học nổi tiếng nhất Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước Việt Nam? Chúng tôi sẽ giúp bạn bằng những bài viết sau:

Daguang Buu (1910-1986)

Daguang Buu Các giáo sư, nhà khoa học nổi tiếng của Việt Nam, người tiên phong trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và công nghệ quân sự tại Việt Nam. Đồng chí đề nghị cải tiến nội dung giảng dạy cơ bản nhất, hiện đại nhất, phù hợp nhất với điều kiện đất nước Việt Nam ở tất cả các ngành, nghề đào tạo. Tác phẩm tiêu biểu của ông là về sự phát triển của khoa học cơ bản và công nghệ rà phá bom mìn trong chiến tranh. Các tác phẩm nổi tiếng của ông là:

  • Thống kê định kỳ
  • Đời sống
  • Vật lý cương cứng yếu
  • Toán tử Đại số (1961)
  • Nguyên tử-Nguyên tử-Hạt nhân-Vũ trụ Tuyến tính
Daguang Buu (1910-1986)
Daguang Buu (1910-1986)

Chen Dayi (1913-1997)

Chen Dayi Giáo sư tên thật là Fan Guangle, đến từ Yonglong. Nhà khoa học chính, kỹ sư quân sự, giám đốc công nghệ cao cấp. Công trình nghiên cứu vũ khí của ông được quốc tế đánh giá cao. Ông là cha đẻ của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam.

Chen Dayi (1913-1997)
Chen Dayi (1913-1997)

Leventim (1918-1991)

Leventim Ông là giáo sư, tiến sĩ toán học tài năng đầu tiên của Việt Nam. Ông đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành Toán học ở Việt Nam. Ông là tác giả của hơn 20 công trình toán học được đăng trên các tạp chí quốc tế. Ông đã biên tập nhiều sách toán học. Gồm 2 sách chuyên khảo: một số bài toán trong lý thuyết đàn hồi (1970) và một số bài toán trong chất lỏng nhớt (1970). Năm 1996, ông đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh đầu tiên của Việt Nam nhờ công trình toán học xuất sắc.

Leventim (1918-1991)
Leventim (1918-1991)

Nguyễn Văn Hiệu (1938 – không rõ)

Ruan Wenxiao Ông là giáo sư, nhà chính trị, nhà vật lý kiệt xuất của Việt Nam. Anh sinh ra trong một gia đình viên chức nhỏ ở Cầu Đỏ, phường Hà Khẩu, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Anh ấy phải trải qua nhiều khó khăn gian khổ để tiếp tục việc học của mình. Ông là tác giả của hàng trăm cuốn sách thuộc hai lĩnh vực: lý thuyết trạng thái rắn và lý thuyết trường lượng tử. Ngoài ra, ông còn có nhiều đóng góp trong việc thành lập Viện Khoa học Việt Nam và Viện Vật lý. Vì những đóng góp của mình, ông đã được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Ruan Wenxiao (1938 -)
Ruan Wenxiao (1938 -)

Bản đồ màu vàng (1927-không xác định)

Giáo sư Hoàng Tú Ông là nhà toán học Việt Nam tiêu biểu và là người phát minh ra phương pháp lát cắt tụy, người có thể giải nhiều bài toán tối ưu. Đây được coi là cột mốc đầu tiên đánh dấu sự ra đời của lý thuyết tối ưu toàn cục. Ông là tác giả của hơn 100 công trình, được đăng trên các tạp chí quốc tế uy tín. Đó có thể nói là: lập trình toán học, tối ưu hóa toàn cục, lập trình lõm, định lý minimax, v.v. Ông là người có công xây dựng ngành toán học Việt Nam. Quan trọng hơn cả, chính ông là người đã đào tạo ra thế hệ toán học trẻ cho đất nước mình.

Hình ảnh màu vàng (1927-không rõ)
Bản đồ màu vàng (1927-không xác định)

Dang Wuming (1946-không rõ)

Giáo sư Đặng Vũ Minh là nhà hóa học Việt Nam, tiến sĩ, viện sĩ nước ngoài. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách trong lĩnh vực công nghệ nguyên tố hiếm và hóa học.Anh ấy cũng là đồng tác giả của cuốn sách này Sản phẩm phân hạch của các nguyên tố transuranic trong vũ trụ Nhà xuất bản Nauka ở Moscow xuất bản bằng tiếng Nga vào năm 1984. Ông là tổng biên tập Hóa-Lý-Sinh phân tích và là Chủ tịch Hội Phân tích Hóa-Lý-Sinh Việt Nam. Năm 2005, anh đạt Huân chương Lao động hạng Nhất – Giải thưởng Khoa học Công nghệ Quốc gia.

Dang Wuming (1946-không rõ)
Dang Wuming (1946-không rõ)

Wu Baozhou (1972-không rõ)

Giáo sư Ngô Bảo Châu Anh là nhà khoa học toán học trẻ nhất Việt Nam được phong hàm giáo sư khi mới 33 tuổi. Ông nổi tiếng với việc chứng minh các bổ đề cơ bản của các dạng tự động. Anh cũng là người Việt Nam đầu tiên giành được Huy chương Fields. Ông có nhiều công trình khoa học nổi tiếng quốc tế và có nhiều đóng góp cho nền giáo dục nước nhà.

Wu Baozhou (1972-không rõ)
Wu Baozhou (1972-không rõ)

Ruan Shanping (1968 – không rõ)

Ruan Shanping Là giáo sư có nhiều đóng góp cho nền khoa học quốc gia, ông hiện đang giảng dạy tại Khoa Hóa học tại Đại học Northwestern. Nghiên cứu của ông tập trung vào việc thiết kế các vật liệu mềm cho khoa học vật liệu, hóa học xúc tác và y học. Ông là thành viên chính của Phòng thí nghiệm Quốc gia Argonne.

Ruan Shanping (1968 - không rõ)
Ruan Shanping (1968 – không rõ)

Ruan Xuanhong (1976 – không rõ)

Ruan Xuanhong Ông là giáo sư cơ khí, quê quán Tánh Linh ở Bình Thuận, quê ở Quảng Chí. Anh hiện là giảng viên Khoa Cơ học, Toán và Công nghệ Thông tin của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ông đã công bố hơn 60 bài báo quốc tế và hơn 40 bài báo khoa học tại các hội nghị nổi tiếng quốc tế. Nghiên cứu của ông tập trung vào sự phát triển của các công cụ tính toán mạnh mẽ và mô phỏng máy tính. Những nghiên cứu của anh vẫn được ứng dụng vào các lĩnh vực thực tế của cuộc sống.

Ruan Xuanhong (1976 - không rõ)
Ruan Xuanhong (1976 – không rõ)

Nguyễn Thục Quyên (1970 – không rõ)

Nguyễn Thục Quyên là nhà khoa học nữ nổi tiếng duy nhất của Việt Nam. Cô là một nhà khoa học và nhà nghiên cứu người Mỹ gốc Việt. Cô hiện là giảng viên Khoa Hóa học và Sinh học tại Đại học California, Santa Barbara. Cô đã giành được giải thưởng Alfred Sloan quý giá (Alfred Sloan Prize) một cách xuất sắc, và trở nên nổi tiếng trong giới khoa học. Nghiên cứu của cô là tất cả về các thiết bị điện tử hữu cơ, chẳng hạn như quang điện, lep, pin mặt trời …

Nguyễn Thục Quyên (1970 - không rõ)
Nguyễn Thục Quyên (1970 – không rõ)

Để xã hội phát triển hơn, khoa học cần tiến bộ hơn. Tất nhiên là có nhà khoa học trẻ tiếp theo. Nhưng tôi tin rằng mười nhà khoa học nổi tiếng hàng đầu của Việt Nam ở trên sẽ được ghi nhớ mãi mãi.

Comments

Bình Luận